Ý nghĩa hình tượng các con vật trong phật giáo

Các con vật trong phật giáo

Theo triết lý nhà Phật bất kỳ sự hiện hữu của hiện tượng nào thì cũng luôn có ý nghĩa của nó. Ở văn hóa Phương Đông nói chung và Đạo Phật nói riêng thì khoảng cách giữa những thứ thuộc về vật chất và tinh thần đều không có nhiều, còn đối với Phương Tây thì hoàn toàn ngược lại. Do đó những biểu tượng mang tính tôn giáo như Đạo Phật là thể hiện văn hóa của Á Châu.

Theo Đạo Phật ta sẽ tìm hiểu những biểu tượng ở cả ý nghĩa bên ngoài lẫn ẩn ý bên trong của nó. Tuy nhiên thì cốt theo Đạo Phật mọi vật đều tồn tại được là nhờ có những ý nghĩa bên trong của nó, và điều nào đó xảy ra đều là do sự tạo ra của tâm thức hay chúng sinh đã hành nghiệp. Điều này cho ta thấy mọi sự  tồn tại đều là do cái tâm tạo nên mà không thể tự nhiên mà có nó được. Ví như cái cây cần phải có Hạt giống để tạo ra cây đó,  theo đó chính cây là sự vật hiện tượng vì có nghiệp chủng tạo lên nó.

Trong thực tế kể cả sự xuất hiện vật lý của một cái cây cũng là dựa vào một chủng nghiệp ở nơi tâm thức của các hệ sinh vật trong thế giới toàn diện để cây  đó sinh trưởng và phát triển. Vì vậy, tất thảy những gì mà ta vẫn quan niệm do tự nhiên đều tương ứng với một nghiệp và điều đó được biểu hiện ở bề mặt ngoài như một đối tượng mang tính vật lý như cái cây mà chúng ta vừa bàn đến. Thực sự những thực tại của các biểu tượng hay đơn giản là cái cây được khám phá ra ở trong thiền định. Từ các nghiên cứu của Đạo Phật bằng cách nào đó họ ra tìm hiểu ra nguồn gốc bản chất thật của các biểu tượng thông qua các hình thái hình ảnh mà ta trực tiếp nhận được bằng hiểu biết sáng tỏ của mình. Ngay cả những người chỉ người bình thường cũng có thể chân ngộ được điều đó tuy nhiên sự rõ ràng phải ở tầng của tri thức.

Tất cả những biểu tượng của Phật Giáo nói riêng và các biểu tượng của tôn giáo khác nói chung chung đều biểu hiện dưới dạng vật chất và ta không hiểu hết được các ý nghĩa nguồn gốc thật sự của chúng. Chúng được con người sử dụng, hay được tôn thờ đều là do người này truyền lại người kia tạo ra truyền thống, và con người lại tin qua các niềm tin khác nhau và mang đến điềm tốt và mọi sự thịnh vượng. trong bài viết này tôi cùng quý vị sẽ tìm hiểu về năm loài thú điển hình.

Sư Tử

Sử tử luôn là vua của muôn thú, sở hữu hiện thực là dáng dấp kiêu hãnh và oai vệ, cũng phù hợp với hình dáng nó là một loài thú ăn thịt các loài thú khác. Nơi ở của chúng chính là những đồng cổ bằng phẳng và sẽ không ai thấy loài sư tử này ở trên núi hay ở những núi tuyết thì càng không có. Trong thế giới tự nhiên để có thể đi săn tốt nhất loài này thường đi săn cùng nhau và rất ít khi thấy đi đơn lẻ trừ khi đã bị đàn ruồng bỏ. Có một điều kỳ lạ là sư tử cái luôn đảm nhiệm vai trò kiếm thức ăn về cho đàn, còn sư tử đực thì sẽ không thấy đi săn. Tuy nhiên vai trò cực kỳ quan trọng của sư tử đực là bảo vệ bầy đàn của nó tránh khỏi sự quấy nhiễu của các kẻ thù. Và càng kỳ lạ hơn là loài sư tử lại không có kẻ thù tự nhiên nào cả. Do những đặc tính đó như một lẽ tự nhiên sư tử làm vua của các loài thú, và à biểu tượng của vua tức mang trí tuệ và niềm kiêu hãnh.

Trong lý luận của Phật Giáo sư tử là hiện thân của chư Bồ Tát là những người con trai do Đức Phật Tạo ra. Chư Bồ – Tát là những vị đã được giác ngộ, vị này xuất hiện từ Bồ – Đề và thề bỏ hạnh phúc bình yên trong Niết Bàn, ở lại nhân gian khi tất thảy chúng sinh sẽ thoát khỏi khổ cực. Chư Bồ – Tát có 6 ba la mật: Trì giới, nhẫn nhục tinh tấn thiền định bố thí và trí tuệ, và bốn điều xuất phát từ đó là phương tiện thiện xảo, thề nguyện, sức mạnh và trí tuệ.

Trong tượng Phật Giáo ta có thể thấy những Chư Bồ – Tát đóng vai trò là những hộ pháp nâng niu tòa ngồi của Phật và Bồ Tát. Quý vị có thể bắt gặp thường xuyên ở các chùa chiền. Có một hình tượng sư tử ở phía Bắc Nepal do ảnh hưởng của Phật giáo Tây Tạng, hình tượng sư tử trong mắt người xứ này là hình tượng sư tử tuyết. Nhưng thực tế thì không có con sư tử nào mà lại sống trong tuyết cả.Hình tượng của sư tử tuyết có màu xanh hoặc trắng, bờm màu cam hay ngọc nam, đi mây về gió với đôi mắt dữ tợn và miệng rộng. Rất tự do đi lại xung quanh ngọn núi tuyết cao mà không bao giờ gặp bất cứ trở ngại nào, đó là biểu tượng của trí tuệ của nhà vua với sự kiêu hãnh và siêu phàm hơn nữa cuộc sống tự do tự tại giống như hành giả thực hành pháp chứ không bị ô nhiễm bởi phàm tục qua hình ảnh Tuyết.

VOI

Trong tự nhiên loài voi có đặc tính là sức mạnh tuyệt đối và từ tốn kiên định. Ở trong Phật lý thì nó trở thành sự hiện diện của Sức Mạnh và tâm thức cũng như mang trách nhiệm và sự chân chất vốn có. Trong thần thoại của xứ Ấn Độ, thì loài voi này có thể bay và duy nhất voi trắng trở thành thú cưỡi của thần Indra . Do đó voi trắng trong truyền thuyết tạo ra mưa. Trong xã hội xứ này coi voi là điềm lành, thịnh vượng. Trong lịch sử thì thấy các vị vua thường cưỡi loài này khi ra trận.

Trong Phật Giáo, hình ảnh voi là biểu tượng của sức mạnh trong tâm tức. Diễn biến qua giai đoạn đầu thì biểu tượng thông qua hình ảnh của một coi voi xám khi tâm chưa tịnh thì có thể chạy lung tung tàn phá mọi thứ. Đến khi tâm tịnh rồi thì được biểu tượng bằng hình ảnh con voi trắng mạnh mẽ và hùng dũng.

Tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng sinh làm voi, và vào kiếp sau cùng của ngài từ cõi trời đã nhập thể vào thai tạng của mẹ mình với hình ảnh một con voi màu trắng. Tranh tượng Ấn giáo, có hai vị thần đầu voi là Gangpati hay Ganesh. Các nghi lễ cúng mandala, con voi quý được dâng cho Đức Phật. Ngà của voi cũng được vua chúa lấy làm biểu tương của mình. Ở một hình ảnh khác voi xuất hiện như một phương tiện di chuyển hay canh gác và bảo vệ Đức Phật.

NGỰA

Ngựa từ lâu đời đã được con người làm phương tiện vận chuyển vì sức bền của ngựa mà vận tốc ngựa chạy cũng rất nhanh, một số quý vị có thể xem ở đâu đó hình ảnh ngựa có cánh và bay được. Thần thoại hy lạp cổ ngựa cũng được lắp cánh và bay được. Ngựa là một loài rất trung thành và nhanh nhẹn, hơn nữa cũng rấ khỏe mạnh. Trong sự tích Kantaka, là con ngựa của thái tử Siddhartha Gautama. Khi ngài từ bỏ cung điện về làm Ẩn sĩ giang hồ, con ngựa đã nhận ra rằng chủ nhân của mình sẽ không quay về nữa nên nó đã chết vì bị vỡ tim.

Ở Phật Giáo, ngựa cũng kà biểu tượng của các hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh và tượng trưng sự nỗ lực trong việc tu luyện pháp. Cũng là tượng trưng cho khí chạy quanh cơ thể và là phương tiện của tim. Khái niệm ngựa gió chính là biểu tượng của Tâm. Vì Phương tiện đi lại của tâm là gió và gió cũng được cưỡi. Trong việc hành pháp, tiếng hý của ngựa có tác dụng đánh thức tâm ngái ngủ Trong Phật giáo hình ảnh của ngựa rát nhiều và nâng đỡ tọa ngồi của Bảo Sinh Phật. Và là các phương tiện của các vị thần.

CÔNG

Trong dương gian, quan niệm công có ý ngĩa mang về sự cởi mở và chấp nhận. Ở thiên chúa giáo công có ý nghĩa bất tử. Còn ở vũng Lưỡng Hà, có 2 con công biểu tượng cho sự hợp nhất tuyệt đối. Còn trong ấn giáo những hoa văn của loài này tượng trưng cho những con mắt, và cũng là hình ảnh của những tinh tú. Trong phật giáo thì hình ảnh công tượng trưng cho trí tuệ. Khả năng của loài này rất đặc biệt chúng có thể ăn nhưng cây có độc mà không hề hấn gì, điều đó cho thấy ở loài công có một sức mạnh và được ví như những Đại Bồ Tát. Vì ở một vị Bồ Tát những thứ có độc đều được chuyển thành tâm giác ngộ và không con độc hại nữa.

Trên thế giới này tâm của con người như là một khu rừng với đầy đủ các loại quả mang tên sân si và oán hận. Mọi thứ trong khu rừng đấy đều được tâm tầm thường thèm muốn và khao khát. Còn đối với những vị Bồ Tát với tâm đã vứt bỏ được hồng trần thì lại không bị hấp dẫn bới chúng. Tâm của các vị rất rộng lớn và bao la, không chỉ vị kỷ cho bản thân ở đấy các vị Bồ Tát muốn mang lại hạnh phúc cho tất thảy chúng ính, và làm những công việc vì lợi ích của chúng sinh.

Bình thường các loài ăn độc dược cơ thể sẽ yếu ớt mà từ đó tàn lụi, nhưng đối với loài công càng ăn độc dược thì cơ thể càng trở nên khỏe và đẹp đẽ. Càng được tô điểm bởi hàng lông vũ tuyệt sắc trên đầu với năm con đường của Bồ Tát và ngũ phương Phật. Chúng có màu sắc rực rỡ của da trời, làm cho những sinh vật khác đều si mệ. Tương tự những ai mà nhìn thấy Bồ Tát đều hoan hỷ đều thích và vui trong tâm. Thói quen ăn những cây có độc lại không tranh giành của ai hay không phương hại đến các sinh vật khác. Tương tự bồ tát cũg không đem lại những sự có hại nào cho chúng sinh cả.

CHIM ƯNG

Rồng là vua của loài có vảy thì chim ưng lại là vua của các loài chim. Chim ưng nuốt những con rắn là biểu tượng của những thế lực hắc ám. Hình ảnh chim ưng với thân hình trên alf hình người có mắt và mỏ to, mào thì ngắn có màu xanh, lông đầu màu vàng. Nhưng chính thực trongđạo Hindu được tạo dáng hình người có đôi cánh ở trên. Trong tự nhiên chim ưng là một loài chim lớn, nó tượng trưng cho không gian và các năng lượng tốt mặt trời mà có thể là khô nước.

Chim ưng cũng chính là kẻ thù tự nhiên của loài rắn. Hình ảnh chim ưng bắt rắn là tượng trưng cho tâm vững có thể phá hủy được tà niệm, ngoài sự dũng mạnh chim ưng tượng trưng cho sự phóng khoảng bởi sải cánh dài rộng và hình ảnh bay lượn trong không trung một cách tự do. Đó cũng chính là hình ảnh tự do tự tạ không bị trói buộc vào cảm xúc nào. Tâm có sáng thì mọi nơi ưng đến cũng như ánh nắng mặt trời chiếu vào tạo ra sự sinh trưởng của đời sống và trí tuệ. Trong nghệ thuật hindu, chim ưng la vật cưỡi của thần. Trong Phật giáo nó là vật cưỡi của Bất Không Thành Tựu Như Lại, Đức Phật biểu thị cho trí tuệ viên mãn.